Tư vấn trực tuyến

Danh từ trừu tượng:
NTT phải dừng lại ở đây để nói rõ hơn vì nó hơi… trừu tượng. Những danh từ đếm được ở trên là cụ thể , chúng ta có thể nhìn thấy, sờ được, ngửi được, tóm lại là dùng giác quan để biết (không khí không thấy được nhưng hít thở thì biết). Nhưng có những thứ chúng ta chỉ có thể cảm nhận được chứ không thể dùng giác quan nhận thấy. Thí dụ như cái gì nào, các bạn suy nghĩ thử xem? (Đừng nói cục than nóng đỏ là trừu tượng vì ta không thể sờ được nhé hihi)
Đây này: cảm giác, tình cảm, tính tình là những thứ không thể nhìn thấy được, như là sự hạnh phúc, buồn rầu, sự can đảm, sự lười biếng, chúng ta đâu có nhìn thấy, chỉ cảm nhận được thôi, thí dụ một người xông vào đám cháy cứư người, chúng ta nói anh ta can đảm, nhưng cái “sự can đảm” đó thì ta không thấy, không nắm bắt được, đúng không nào? Hoặc bước ra đường, thấy khói bụi mịt mù, ta nói “sự ô nhiễm” nhưng cụ thể thì không dùng tay nắm bắt được. (NTT sẽ liệt kê ở dưới.)
Vì không thấy được, không đếm được nên những danh từ này không có số nhiều, cũng không dùng a/ an.
Tuy nhiên chúng ta vẫn có ngoại lệ, và các bạn nhớ là cứ có luật lệ là có ngoại lệ nhé, không có gì tuyệt đối mà.
Chúng ta vẫn có thể nói a help (một sự giúp đỡ, với nghĩa hơi đặc biệt), a pity (sự đáng tiếc), a shame (sự xấu hổ), a love +of (sự yêu thương), a surprise (sự ngạc nhiên)… (có dùng trong câu cảm thán đấy)
Ngoài ra, một số danh từ có thể dùng cả hai cách đếm được và không đếm được, ý nghĩa có thể gần giống nhau hay khác nhau.
e.g.
time: thời gian (không đếm được):
I need a lot of time. (Tôi cần nhiều thời gian.)
time: lần (đếm được).
I meet him three times a week. (Tôi gặp anh ta ba lần một tuần.)
work: việc làm (không đếm được)
He’ s looking for work/ a job. (Anh ta đang tìm việc làm. Job là “công việc” hoặc “nghề” thì đếm được, có thể làm hai, ba jobs nhé.)
work: tác phẩm (đếm được)
Shakespeare’ s works (những tác phẩm của Shakespeare)
Đôi khi chúng ta thêm S vào danh từ là hiểu ngầm số nhiều của một danh từ khác không nói ra.
e.g. NTT vào quán cà phê và gọi “a black coffee”, có nghĩa là “a cup of black coffee” (một tách cà phê đen) hoặc “two coffeeS” (= two cupS of coffee), như người Việt ta vẫn gọi: “Cho một cái đen” vậy.
He’ s writing a book about Italian wineS. (= kindS of wine. Anh ta đang viết một cuốn sách về CÁC loại rượu vang của Ý.)
Khi các bạn tra từ điển một danh từ, sẽ thấy ghi [C] hoặc [u] hoặc cả hai [C,U] nghĩa là count và uncount: danh từ đếm được và không đếm được, và có thí dụ minh hoạ cho mỗi loại. Có nhiều danh từ dùng cả hai cách nên chúng ta phải xem kỹ nhé, thường là theo nghĩa, như chữ “time” vậy, thời gian dĩ nhiên là không đếm được, nhưng số lần thì đếm được.
Tới đây thì chúng ta mệt quá rồi phải không, nào, cả lớp dừng lại hít thở chút không khí… ô nhiễm nhé, (thành phố chỗ nào cũng bị ô nhiễm mà…) và nghĩ “tiếng Việt là dễ nhất” phải không, không dám đâu nhé, có câu “Phong ba bão táp không bằng ngữ pháp VN” mà, chúng ta thấy dễ vì là tiếng mẹ đẻ thôi, chúng ta nói được, hiểu được chứ ngữ pháp chưa chắc đã nắm được đâu. Thí dụ chúng ta đâu có nắm chắc các loại từ tượng thanh, tượng hình, từ láy, từ ghép… trong tiếng Việt . Còn dấu giọng VN thì khỏi nói cũng thấy là rùng rợn rồi, chỉ cần xuống giọng câu “Con của tôi đang nằm trong nôi.” mà thành “Con của tôi đang nằm trong nồi.” là thấy ngay.
NTT đùa cho các bạn thanh thản đầu óc, giải lao chút đấy. Thôi ta quay trở lại bài học.
Các danh từ không đếm được thường gặp:
– Chất lỏng: water, tea, coffee, milk, fruit juice, beer, wine, soup.
– Chất khí: smoke, air, steam.
– Chất sệt: butter, cheese, meat, bread.
– Chất bột: rice, sugar, salt, pepper, flour.
– Trừu tượng: help, homework, housework, information, news, music, work, advice, luck, peace, happiness, sadness, silence.
Chúng ta cũng làm quen với 2 từ mới này nhé: a little và a few, đây là 2 từ chỉ số lượng, ít thôi.
– A little: 1 ít, 1 chút, đi với danh từ không đếm được.
e.g. a little milk, a little sugar, a little bread
– A few: 1 vài, đi với danh từ đếm được.
e.g. a few books, a few apples, a few students

NTT